This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Điều trị viêm teo âm đạo

(Tiếp theo kỳ trước)

Liệu pháp estrogen âm đạo

Liệu pháp estrogen âm đạo để điều trị teo âm đạo đôi khi được gọi là liệu pháp estrogen tại chỗ.

Liệu pháp estrogen âm đạo có hiệu quả nhất đối với các triệu chứng teo âm đạo mức độ trung bình đến nặng, với điều kiện là không có chống chỉ định (ví dụ: một số phụ nữ có khối u estrogen phụ thuộc).

Liệu pháp estrogen đầy đủ dẫn đến phục hồi độ pH axít bình thường trong âm đạo và hệ vi khuẩn thường trú, sự dày lên của các tế bào biểu mô, tăng chất tiết âm đạo và giảm khô âm đạo.

Ngoài ra, liệu pháp estrogen kèm các lợi ích đường tiết niệu giúp giảm tỉ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu và các triệu chứng bàng quang tăng hoạt.

Viên:

Viên estradiol âm đạo 10mcg (Vagifem) để giảm các triệu chứng viêm teo âm đạo đã có từ năm 2010. Liều này thay thế viên 25mcg đã được sử dụng trước kia và hiện nay, viên 25mcg đã bị ngưng. Liều dùng: viên được đặt trong âm đạo mỗi ngày trong 2 tuần đầu tiên sử dụng và 2 lần/tuần sau đó.

Vòng:

Một vòng silastic tẩm estradiol (Estring) cung cấp estrogen tại chỗ âm đạo. Vòng này được thiết kế để giải phóng estradiol 7,5mcg/ngày trong âm đạo, trong thời hạn 90 ngày, sau đó sẽ thay vòng mới. Vòng này được dung nạp tốt và không gây trở ngại cho giao hợp. Tuy nhiên, những người phụ nữ đã bị cắt tử cung sẽ khó giữ vòng.

Loại vòng âm đạo khác (Femring) giải phóng liều cao hơn nhiều của estradiol (50 - 100mcg mỗi ngày) và có thể điều trị cả triệu chứng vận mạch và các triệu chứng teo niệu sinh dục. Vòng liều cao này được xem là estrogen có hệ thống, chứ không phải là liệu pháp estrogen âm đạo tại chỗ.

Kem:

Liều estrogen thay đổi theo lượng kem sử dụng. Các loại kem được cung cấp trong một ống có đánh dấu định liều; do đó, bệnh nhân có thể đo liều theo toa. Hai chế phẩm kem chứa các loại estrogen khác nhau:

- Estrogen liên hợp (Premarin chứa 0,625mg estrogen liên hợp/ 1g kem): liều khoảng 0,5 - 2,0g kem, tương đương 0,3 - 1,25mg estrogen liên hợp.

Các phác đồ khuyến cáo của nhà sản xuất cho viêm teo âm hộ - âm đạo là: 0,5 - 2,0g kem dùng trong âm đạo hoặc một chế độ liên tục (2 lần/tuần) hoặc chế độ chu kỳ (mỗi ngày trong 21 ngày, sau đó nghỉ 7 ngày).

- Estradiol (Estrace 100mcg estradiol/ 1g kem): phạm vi liều 1 - 4g kem, tương đương 100 - 400mcg estradiol.

viêm teo âm đạoCác loại kem được cung cấp trong một ống có đánh dấu định liều; do đó, bệnh nhân có thể đo liều theo toa

Các phác đồ khuyến cáo của nhà sản xuất là: 2 - 4g kem trong âm đạo mỗi ngày trong 1 hoặc 2 tuần, sau đó giảm dần đến một nửa liều khởi đầu trong 1 - 2 tuần kế tiếp. Liều duy trì 1g kem, 1 - 3 lần/tuần có thể được sử dụng.

Cần lưu ý rằng các liều tối đa của Estrace chỉ dẫn trên bao bì (2,0g) tạo nên nồng độ estradiol/ huyết tương phụ nữ tiền mãn kinh (estradiol tiền mãn kinh khoảng 40 - 600 pg/mL, tùy thuộc vào giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt), không nên sử dụng lâu dài mà không có hỗ trợ progestin đối lập và/ hoặc đánh giá nội mạc tử cung. Ngoài ra, nên sử dụng một liều thấp của kem estradiol 50mcg/ 0,5g kem, so với khuyến cáo của nhà sản xuất.

Ở phụ nữ có những triệu chứng nặng nề hơn, các bác sĩ lâm sàng có thể bắt đầu với một lượng lớn kem estrogen âm đạo (≥ 0,5g kem) và sau đó được giảm lại theo một trong các tùy chọn liều estrogen thấp hơn mô tả ở trên. Các liều cao estrogen âm đạo làm tăng nồng độ estrogen huyết thanh và ức chế nồng độ gonadotropin huyết thanh.

Hiệu quả của kem estrogen âm đạo để điều trị viêm teo âm đạo cũng được xác lập. Ở phụ nữ sau mãn kinh được sử dụng 0,5g estrogen liên hợp trong âm đạo mỗi ngày, xét nghiệm tế bào âm đạo thay đổi trở về giống như bình thường.

Estrogen hấp thu hệ thống:

Liệu pháp estrogen âm đạo vẫn có khả năng hấp thụ estrogen vào tuần hoàn, mặc dù ở một mức độ thấp hơn so với liệu pháp estrogen uống hoặc qua da. Đối với cùng một liều lượng estrogen, khi dùng đường âm đạo, nồng độ estradiol và estrone huyết thanh thấp hơn so với estrogen uống (thấp hơn 30% trong một nghiên cứu của estrogen liên hợp). Sự hấp thu của estrogen âm đạo phụ thuộc chủ yếu vào liều estrogen.

Ảnh hưởng của mức độ nghiêm trọng của teo âm đạo trên sự hấp thụ oestrogen hệ thống gây nhiều tranh cãi. Một số nghiên cứu đã báo cáo rằng sự hấp thu hệ thống là cao nhất trong những ngày của tuần đầu tiên điều trị và sau đó giảm khi tiếp tục trị liệu.

Ở những phụ nữ sử dụng vòng âm đạo liều thấp, thiết bị có thể phóng thích esrogen liều cao hơn trong 24 giờ đầu tiên sử dụng. Điều này đã được chứng minh trong một nghiên cứu trong ống nghiệm; trong đó, các vòng phóng thích estrogen lên đến 55mcg trong ngày 1 thử nghiệm, so với 7 - 8mcg trong ngày 2 - 90.

Sử dụng progestin đối kháng:

Progestin có lẽ là không cần thiết để bảo vệ chống lại sự tăng sản nội mạc tử cung hoặc ung thư ở phụ nữ điều trị teo âm đạo với các chế phẩm liều thấp (tức là, phác đồ khuyến cáo của nhà sản xuất của vòng liều thấp [Estring] hoặc viên [Vagifem], 2 - 4 lần mỗi tuần).

Sự hấp thu estrogen hệ thống với việc sử dụng kem bôi âm đạo (Premarin và Estrace) là rất khó để định lượng chính xác và có rất ít dữ liệu về nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung với các chế phẩm này. Một số chuyên gia sử dụng kem estrogen liên hợp 0,25mg 2 lần/tuần mà không có progestin. Tuy nhiên, cách tiếp cận thận trọng nhất là sử dụng progestin đối kháng cho phụ nữ được điều trị bằng kem estrogen âm đạo. Phác đồ progestin uống điển hình là dùng hàng ngày 10 - 12 ngày liên tiếp mỗi tháng. Các progestin có thể được sử dụng bao gồm: medroxyprogesterone (ví dụ: 10mg), norethindrone acetate (ví dụ: 5 - 10mg) và progesterone micronized (ví dụ: 200mg).

Giảm đáng kể tình trạng viêm teo âm đạo mức độ nặng ở những người có tần số giao hợp cao

Các hiệu ứng nội mạc tử cung của mỗi phương thức cung cấp estrogen âm đạo liều thấp đã được đánh giá bởi đo độ dày nội mạc tử cung bằng siêu âm hoặc bằng cách sinh thiết:

- Đối với thuốc viên estradiol (Vagifem) 10mcg, một nghiên cứu tiến cứu đánh giá sử dụng trong hai tuần, sau đó 2 lần/tuần, trong 52 tuần. Trong số 386 phụ nữ đã có sinh thiết đánh giá 52 tuần sau khi bắt đầu điều trị, có một trường hợp tăng sản phức tạp không điển hình, trường hợp này tiếp xúc với thuốc chỉ 7 ngày (cho thấy một bất thường từ trước) và một trường hợp ung thư tuyến nội mạc tử cung (trong đó, bệnh từ trước không thể được loại trừ vì các mẫu sinh thiết trước khi điều trị là không đủ để phân tích).

- Đối với vòng estradiol liều thấp (Estring), 60 phụ nữ mãn kinh được phân ngẫu nhiên để nhận Estring hoặc không điều trị trong 12 tháng. Đánh giá siêu âm không thấy có sự gia tăng đáng kể độ dày nội mạc tử cung ở cả hai nhóm.

- Đối với kem estrogen liên hợp liều thấp (Premarin), một nghiên cứu của 20 phụ nữ (điều trị bằng 0,3mg estrogen liên hợp, bôi âm đạo 3 đêm mỗi tuần, trong 6 tháng) được tìm thấy bằng chứng của tăng sản nội mạc tử cung trên mẫu sinh thiết ở một người phụ nữ, mặc dù độ dày nội mạc tử cung trên siêu âm bình thường. Quan sát này cho thấy sự cẩn trọng, nhưng không có nghĩa là một progestin nên được sử dụng thường xuyên.

Không có bằng chứng rằng giám sát nội mạc tử cung thường quy được chỉ định ở phụ nữ không có triệu chứng được điều trị thấp liều estrogen âm đạo. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu về tác động nội mạc tử cung ở phụ nữ đã được điều trị bằng liệu pháp estrogen âm đạo liều thấp kéo dài hơn một năm; những nghiên cứu này là cần thiết.

Các tác dụng không mong muốn:

Các tác dụng phụ của liệu pháp estrogen âm đạo là không phổ biến. Một số phụ nữ có thể than phiền về kích thích âm đạo, chảy máu âm đạo hoặc đau ngực. Những phụ nữ không thích sự nhầy nhớt của kem có thể sử dụng dạng viên hoặc vòng.

Đáng chú ý, người đàn ông tiếp xúc với kem estrogen âm đạo khi quan hệ tình dục có thể hấp thụ estrogen, nhưng điều này hiếm khi ảnh hưởng.

Điều biến thụ thể estrogen chọn lọc

Ospemifene là một điều biến thụ thể estrogen chọn lọc (selective estrogen receptor modulator - SERM) hoạt động như một chất đồng vận estrogen trong âm đạo và dường như không có tác dụng estrogenic đáng kể trên nội mạc tử cung hoặc vú. Ospemifene được sự chấp thuận của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vào tháng 2/2013 để điều trị mức độ viêm teo âm đạo từ trung bình đến nặng.

Đối với phụ nữ teo âm hộ âm đạo triệu chứng không giảm với liệu pháp phi dược lý, nên dùng ospemifene hơn là điều trị estrogen âm đạo cho những người không thể dùng (viêm khớp nặng, béo phì, teo âm hộ) hoặc không muốn sử dụng một sản phẩm âm đạo. Các nhược điểm của ospemifene so với estrogen âm đạo được cho sử dụng hàng ngày và tác dụng phụ toàn thân (nóng ran người, tiềm ẩn nguy cơ thuyên tắc huyết khối). Sự an toàn của ospemifene đã không được chứng minh ở những phụ nữ có tiền sử hoặc tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ hoặc với tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối.

Ospemifene là có hiệu quả trong điều trị đau khi giao hợp và khô âm đạo ở phụ nữ mãn kinh so với giả dược. Chưa có nghiên cứu để cập nhật đã so sánh với liệu pháp estrogen âm đạo. Hai thử nghiệm ngẫu nhiên phát hiện ra rằng ospemifene (60mg, 12 tuần điều trị) là hiệu quả hơn giả dược trong việc cải thiện giao hợp đau nhiều hơn đáng kể. Ngoài ra, ospemifene 30mg hoặc 60mg đã làm giảm đáng kể tình trạng khô âm đạo trong một thử nghiệm.

Tác dụng không mong muốn của ospemifene:

Nóng bừng là tác dụng không mong muốn thường gặp nhất của ospemifene: trong một thử nghiệm, tỉ lệ nóng bừng là 7% ở nhóm điều trị so với 3,6% ở nhóm dùng giả dược. Ospemifene làm gia tăng độ dày nội mạc tử cung (0,4 - 0,7mm trong 12 tuần), nhưng các nghiên cứu của một năm sử dụng đã không ghi nhận trường hợp tăng sản nội mạc tử cung không điển hình hoặc ung thư nội mạc tử cung.

Huyết khối là một nguy cơ tiềm tàng với SERM. Hiện vẫn chưa có báo cáo về các biến chứng như vậy với ospemifene, cần nhiều nghiên cứu với số lượng bệnh nhân lớn để phát hiện biến chứng tương đối hiếm có này.

Nghiên cứu trên động vật và dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy rằng ospemifene có tác động trung lập hoặc ức chế sinh ung thư ở vú. Nghiên cứu thêm là cần thiết để đánh giá sự an toàn của ospemifene ở phụ nữ bị ung thư vú, cho dù nó có thể có tác dụng bảo vệ cho phụ nữ có nguy cơ cao đối với bệnh ác tính vú.

Một lợi ích tiềm năng của ospemifene là giảm hủy xương.

Các biện pháp điều trị khác

- Ngừng hút thuốc được khuyến khích cho những lợi ích sức khỏe nói chung của nó và bởi vì những phụ nữ hút thuốc lá tương đối thiếu estrogen.

- Phương pháp điều trị thay thế và bổ sung: bao gồm cung cấp vitamin D đường uống và vitamin E đặt âm đạo đã được đề xuất, nhưng dữ liệu hiệu quả còn giới hạn.

Điều trị teo âm đạo trên phụ nữ ung thư vú

Triệu chứng teo âm đạo là một than phiền thường gặp ở phụ nữ có ung thư vú, đặc biệt là những phương pháp điều trị nội tiết (các chất ức chế aromatase hoặc tamoxifen). Một nghiên cứu của 97 phụ nữ bị ung thư vú đã báo cáo các triệu chứng teo âm đạo trung bình hoặc nặng trong 58% phụ nữ dùng các chất ức chế aromatase và 32% của những người dùng tamoxifen. Cần lưu ý rằng ở phụ nữ tiền mãn kinh, tamoxifen gây tác dụng đối kháng estrogen trên âm đạo. Ở phụ nữ sau mãn kinh, nó tác động hiệu ứng estrogen yếu trên âm đạo; nhưng một số phụ nữ được điều trị bằng tamoxifen vẫn gặp triệu chứng teo niệu sinh dục.

Liệu pháp không hoóc-môn là lựa chọn đầu tay điều trị teo âm đạo ở phụ nữ bị ung thư vú. Một vài nghiên cứu đã đánh giá các phương pháp điều trị ở những phụ nữ bị ung thư vú. Pilocarpine - một chất chủ vận cholinergic dùng để điều trị hội chứng Sjogren, đã được điều tra cho chỉ định này, nhưng đã không được tìm thấy để cải thiện tình trạng khô âm đạo so với giả dược trong một thử nghiệm ngẫu nhiên của 201 phụ nữ.

Có rất ít dữ liệu liên quan đến sự an toàn của liệu pháp estrogen âm đạo ở phụ nữ bị ung thư vú. Không tăng nguy cơ tái phát đã được tìm thấy trong một nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu của 1.472 phụ nữ bị ung thư vú, bao gồm 69 phụ nữ được điều trị bằng estrogen âm đạo trung bình một năm (khoảng 0,1 - 5 năm).

Không nên sử dụng liệu pháp estrogen âm đạo cho những phụ nữ đang dùng chất ức chế aromatase điều trị bệnh ung thư vú; mục đích nhằm giảm tối đa nồng độ estrogen hệ thống và nồng độ này tăng nhẹ với việc sử dụng estrogen âm đạo.

Một số dữ liệu cho thấy rằng việc sử dụng testosterone tại chỗ ở phụ nữ trên các chất ức chế aromatase không làm tăng nồng độ estradiol huyết thanh.

Có thể điều trị teo âm đạo với liều thấp estrogen âm đạo ở những phụ nữ dùng tamoxifen. Trong những trường hợp này, một lượng nhỏ estrogen được hấp thụ có khả năng bị chặn bởi các tác động chống estrogen hệ thống của tamoxifen.

Tóm lại, sử dụng liều estrogen âm đạo thấp ở phụ nữ bị ung thư vú là hợp lý ở những người đã thất bại với điều trị không hoóc-môn; những người có nguy cơ tái phát thấp và những người không dùng các chất ức chế aromatase. Liệu pháp estrogen âm đạo nên được bắt đầu ở những bệnh nhân chỉ sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ ung thư và sau khi tư vấn toàn diện của bệnh nhân về rủi ro tiềm ẩn. Sử dụng estrogen âm đạo liều thấp ở phụ nữ đang dùng tamoxifen có thể được xem xét.

TS.BS. LÊ THỊ THU HÀ

(Bệnh viện Từ Dũ)

Cho con bú giảm đau sau mổ đẻ

Sinh mổ chiếm khoảng 1/4 số ca sinh ở Anh, Mỹ và Canada. Trong đó, 1/5 phụ nữ bị đau mạn tính (kéo dài hơn 3 tháng) sau khi sinh mổ. Trong nghiên cứu này, BS. Carmen Alicia Vargas Berenjeno và các đồng nghiệp tại Bệnh viện Trường đại học Nuestra Señora de Valme ở Sevilla (Tây Ban Nha) đã xem xét 185 bà mẹ mổ đẻ tại bệnh viện này trong khoảng 2 năm. Những người tham ra được hỏi về việc cho con bú và mức độ đau tại vết mổ trong vòng 24 giờ và 72 giờ đầu sau khi mổ đẻ và 4 tháng sau đó. Nhóm nghiên cứu cũng xem xét ảnh hưởng của các yếu tố khác bao gồm kỹ thuật mổ, trình độ học vấn và nghề nghiệp của mẹ, mức độ lo âu trong thời gian cho con bú.

Cho con bú giảm đau sau mổ đẻ

Kết quả, 4 tháng sau khi mổ đẻ, 23% số bà mẹ cho con bú dưới 2 tháng vẫn bị đau tại vết mổ so với tỉ lệ 8% ở những bà mẹ cho con bú ≥ 2 tháng. Sự khác biệt này vẫn rõ rệt sau khi tính đến độ tuổi của mẹ.

Nhóm nghiên cứu kết luận: “Các kết quả ban đầu này chỉ ra rằng cho con bú trong hơn 2 tháng có thể giúp phòng ngừa đau dai dẳng sau mổ đẻ và thêm một lý do nữa khuyến khích việc nuôi con bằng sữa mẹ”.

ThS. Thanh Mai

((Theo eurekalert, 6/2017))

Xử trí tắc tia sữa

Đỗ Thị Quỳnh Mai (maiquynh@gmail.com)

tắc tia sữa

Vài ngày sau sinh, bà mẹ cảm thấy vú nóng, nặng và cứng. Sữa bắt đầu được tiết ra làm các tia sữa trong tuyến vú căng sữa có cảm giác như nổi cục, mặc dù dịch sữa vẫn được tiết ra. Ðây là hiện tượng căng sữa thường gặp vào ngày thứ 2-3 sau sinh. Khi người mẹ cảm thấy bầu vú bị cương lên, hơi đau thì nên cho trẻ bú nhiều lần để hút bớt sữa ra, hoặc dùng tay nắn nhẹ vắt sữa, kết hợp chườm ấm bầu vú giúp thông tia sữa. Trong vòng vài ngày sau đó, vú mẹ sẽ tự điều chỉnh theo nhu cầu của trẻ và sẽ bớt căng. Nếu vú vẫn căng rắn hơn, sản phụ hơi sốt là biểu hiện tắc tia sữa... Trong trường hợp này, nên dùng 1 bàn tay đè ép bầu vú lên thành ngực hoặc dùng 2 bàn tay ép vào nhau. Vừa ép vừa day sẽ làm tan các vị trí sữa đã đông kết nằm ở sâu trong bầu vú, day từ từ theo vòng tròn, tăng dần, khoảng 20 lần, rồi lại làm ngược lại, làm nhiều lần. Mặt khác vừa day, vừa chườm ấm vào bầu vú, có thể sử dụng kết hợp với máy hút sữa để hút sữa ra. Hiện nay, một số bệnh viện có sử dụng đèn hồng ngoại và đèn chiếu ánh sáng xanh giảm tác động của việc tắc tia sữa, cương sữa, giúp thông tia, làm mềm bầu vú. Do vậy trong trường hợp cấp thiết, cháu nên đến bệnh viện để thầy thuốc thăm khám và xử trí kịp thời, tránh để muộn gây biến chứng áp-xe tuyến vú.

BS. Kim Oanh

Những điều chị em cần biết về đông lạnh trứng

Mặc dù việc lấy trứng là một phần của cả hai quy trình này, nhưng mục đích lại hơi có chút khác nhau.

Việc lấy trứng của thụ tinh trong ống nghiệm là để có thai và sinh em bé càng sớm càng tốt. Trong quy trình thụ tinh trong ống nghiệm, trứng sẽ được lấy ra và sau đó được thụ tinh với tinh trùng, tạo ra phôi thai, sau đó phôi thai sẽ được cấy vào tử cung của người phụ nữ.

Trong khi đó, quá trình đông lạnh trứng chỉ đơn giản là lấy trứng ra khỏi cơ thể người phụ nữ và sẽ không có quá trình thụ thai ở phía sau. Đông lạnh trứng là để bảo toàn trứng chưa thụ tinh của người phụ nữ để có thể sử dụng thụ thai và sinh em bé sau này.

Khi nào người phụ nữ cần phải tiến hành đông lạnh trứng?

Đông lạnh trứng là kỹ thuật tương đối mới do vậy vẫn còn rất nhiều hiểu lầm về ý nghĩa thực sự của việc này. Rất nhiều người cho rằng, đông lạnh trứng là dành cho những phụ nữ lớn tuổi, cơ thể không thể sản xuất ra trứng được nữa. Tuy nhiên, mục đích thực sự của việc đông lạnh trứng là để dự trữ trứng cho việc thụ thai và sinh con trong tương lai. Việc này có thể thực hiện cho phụ nữ ở mọi lứa tuổi, kể cả với những phụ nữ đang trong độ tuổi sinh đẻ, mà chưa sẵn sàng có con.

Một điều cần lưu ý là, việc đông lạnh trứng sớm cũng sẽ cải thiện khả năng có con trong trong tương lai, so với việc đông lạnh trứng muộn. Trứng càng trẻ và càng khỏe mạnh, khả năng thụ thai thành công và có một em bé khỏe mạnh của bạn sẽ tăng lên và khả năng sảy thai sẽ giảm xuống. Do vậy, nếu bạn có ý định đông lạnh trứng, hãy hỏi ý kiến bác sỹ và tiến hành quy trình này ngay khi bạn còn trẻ, khỏe.

Trữ đông trứng

Càng lớn tuổi, cơ thể bạn sẽ càng sản xuất ra ít trứng hơn

Khi sinh ra, cơ thể người phụ nữ có khoảng 2 triệu quả trứng, được gọi là các trứng "non" và được lưu giữ sâu tại buồng trứng, trong các nang trứng. Các trứng này sẽ được cơ thể nuôi dưỡng đến trưởng thành và chỉ những trứng "chín" được cơ thể giải phóng trong những kỳ kinh nguyệt mới có thể thụ thai. Trong suốt cuộc đời mình, một người phụ nữ có khoảng 400- 500 trứng chín và có khả năng thụ tinh. Khi đến tuổi mãn kinh, người phụ nữ sẽ không còn trứng chín và rụng nữa, nghĩa là bạn không thể thụ thai và sinh con.

Khi bạn lớn tuổi hơn, trứng của bạn cũng bắt đầu sẽ già đi và số lượng trứng sẽ giảm đi đáng kể. Một số chuyên gia cho rằng, trứng của bạn sẽ già nhanh gấp đôi so với tuổi thật. Nói cách khác, nếu bạn đang ở tuổi 40, thì trứng của bạn dường như đã 80 tuổi vậy. Cũng giống như con người, trứng “già” sẽ mất đi nguồn năng lượng và sức sống, dẫn đến khả năng thụ thai sẽ giảm đi.

Nên nghĩ đến việc đông lạnh trứng trước tuổi 35

Các bác sỹ và các chuyên gia về đông lạnh trứng nói rằng, thời điểm tốt nhất để đông lạnh trứng là cuối những năm 20 tuổi, đầu những năm 30 tuổi vì trứng ở giai đoạn này sẽ đem lại khả năng thụ thai cao nhất sau này. Nhưng kể cả khi bạn đã ở cuối những năm 30 tuổi, đầu những năm 40 tuổi và khỏe mạnh, bạn vẫn có thể tiến hành đông lạnh trứng được. Kể cả phụ nữ trên 40 tuổi vẫn có thể tiến hành đông lạnh trứng được, nhưng tỷ lệ mang thai thành công sau này của trứng đã được đông lạnh sẽ rất thấp, chỉ dưới 10%.

Cũng cần nhớ thêm rằng, chất lượng và số lượng trứng sẽ rất khác nhau giữa mỗi phụ nữ. Một số yếu tố cũng ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng trứng bao gồm: tuổi, tiền sử bệnh tật, đáp ứng với thuốc…

Thêm nữa, số lượng trứng đông lạnh càng nhiều thì khả năng sinh con thành công sau này càng cao. Các số liệu thống kê chỉ ra rằng, ở độ tuổi 30, nếu người phụ nữ đông lạnh 15 trứng sẽ có khả năng thành công là 30% trong khi nếu đông lạnh 25 trứng sẽ có khả năng thành công là 40%.

Quá trình đông lạnh trứng cần ít nhất vài tháng

Đông lạnh trứng là quá trình thực hiện tương đối nhanh. Bạn chỉ cần phải thực hiện 3 bước sau: gặp bác sỹ để được tư vấn về quy trình, tiến hành xét nghiệm một số loại hormone trong máu và xét nghiệm một số bệnh lây nhiễm, và dùng thuốc. Trong đa số các trường hợp, quá trình này thường kéo dài một vài tuần và bạn sẽ cần tái khám vài ngày một lần. Một khi bạn đã trải qua quá trình thăm khám ban đầu và đã có chu kỳ kinh nguyệt, thì khoảng 10 ngày sau bạn sẽ được tiêm thuốc trước khi bắt đầu quá trình lấy trứng.

Bạn có thể sẽ bị tăng cân

Đây là câu hỏi mà các chuyên gia nhận được nhiều nhất khi phụ nữ tiến hành đông lạnh trứng, và câu trả lời là có. Bạn có thể sẽ bị đầy hơi, chướng bụng trong thời gian đông lạnh trứng vì tác dụng phụ của loại thuốc bạn dùng trong thời gian này.

Bạn có thể sẽ bị tăng một vài cân (do giữ nước) và sẽ cần điều chỉnh thói quen tập thể dục của mình trong vòng 10 ngày, nhưng tình trạng tăng cân sẽ không kéo dài. Khi bạn có chu kỳ kinh nguyệt trong quá trình đông lạnh trứng, cân nặng của bạn sẽ trở về bình thường vì đa số lượng cân tăng lên là do nước. Trong quá trình đông lạnh trứng, bạn sẽ phải mặc quần co giãn thoải mái, hoặc mặc váy rộng, và tránh mặc quần jean bó sát.

Đông lạnh trứng không đau như bạn nghĩ

Tiêm hormone và lấy trứng nghe có vẻ rất đau đơn, nhưng thực tế, quá trình này lại không đau chút nào. Các mũi tiêm trong quá trình kích trứng đều rất nhẹ và chỉ sử dụng một đầu tiêm rất nhỏ. Vị trí tiêm thường là vùng da bụng, gần rốn. Trên thực tế, nhiều bệnh nhân còn không cảm nhận được mũi tiêm và nghĩ rằng mình chưa được tiêm thuốc, trong khi việc tiêm thuốc đã hoàn thành.

Việc lấy trứng sẽ được tiến hành khi bạn được gây mê, do vậy, bạn sẽ không biết gì và không nhớ gì về quá trình này cả. Quá trình lấy trứng cũng sẽ không gây ảnh hưởng gì đến cuộc sống hàng ngày của bạn cả.

Các trung tâm làm đông lạnh trứng có thể sẽ khác nhau

Cũng giống như các quy trình khác liên quan đến sức khỏe, bạn nên tránh các chương trình giảm giá, ưu đãi tại các trung tâm đông lạnh trứng. Mặc dù giá thành của một số trung tâm đang có ưu đãi, giảm giá sẽ rẻ hơn, nhưng hiệu quả chưa chắc đã cao, và thay vì làm 1 lần, bạn sẽ phải tiến hành làm nhiều lần, như vậy sẽ không còn kinh tế và tiết kiệm nữa. Do vậy, bạn nên tìm hiểu kỹ trước khi lựa chọn trung tâm tiến hành đông lạnh trứng. Một số trung tâm/bệnh viện có tên tuổi nhưng lại ít kinh nghiệm trong việc đông lạnh trứng và ngược lại. Bạn cần tìm hiểu cho kỹ trước khi đưa ra quyết định.

Trứng đông lạnh sẽ không đảm bảo 100% rằng trong tương lai bạn có thể mang thai

Cũng giống như việc thụ thai thông thường, không có gì đảm bảo rằng trứng đông lạnh sẽ giúp bạn mang thai sau này. Do vậy, bạn cần hỏi cho rõ về số lượng trứng sẽ được đông lạnh cũng như tỷ lệ thành công của từng trung tâm.

Và theo khuyến cáo, thì phụ nữ không nên coi việc đông lạnh trứng là một cách để trì hoàn quá trình sinh nở. Những cặp vợ chồng muốn tiến hành đông lạnh trứng, cần được tư vấn thật kỹ về tuổi thực hiện và tỷ lệ thành công của từng trung tâm, so với việc thụ thai tự nhiên về nguy cơ, giá thành và những cách tiếp cận khác. Với trứng khỏe mạnh, tỷ lệ thành công của việc thụ tinh trong ống nghiệm với trứng tươi là từ 30-60%.

Về mặt khoa học, trứng có thể đông lạnh vô thời hạn

Có rất nhiều em bé khỏe mạnh đã được sinh ra từ trứng được đông lạnh từ 5-10 năm. Trường hợp lâu nhất được ghi nhận là em bé sinh ra từ trứng được đông lạnh 14 năm. Về lý thuyết, trứng có thể đông lạnh trong khoảng thời gian bao lâu tùy ý, miễn là thường xuyên được bổ sung nitro lỏng và được duy trì nhiệt độ -190 độ C.

Ths.Bs.Trần Thu Nguyệt - Viện Y học ứng dụng Việt Nam

Những nguyên nhân gây vô sinh từ phần phụ

Đây cũng là cơ quan quan trọng quyết định đến khả năng sinh sản của nữ giới. Vô sinh do phần phụ là những hiện tượng bất thường của vòi tử cung như viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung, ung thư buồng trứng, buồng trứng đa nang, suy buồng trứng… Đây là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến vô sinh nữ, chiếm 20 đên 25 % trong số chị em bị vô sinh.

Những nguyên nhân gây vô sinh từ phần phụ

Viêm ứnước vòi tử cung

Đây là một trong những bệnh phụ khoa thường gặp ở phụ nữ. Bệnh thường có hai giai đoạn cấp tính và mãn tính với những biểu hiện nặng nhẹ khác nhau. Viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe của chị em, đặc biệt là sức khỏe sinh sản, nó có thể là nguyên nhân gây vô sinh ở nữ giới.

Bệnh có thể bắt nguồn từ một số nguyên nhân như: Việc vệ sinh cá nhân kém sạch sẽ, đặc biệt là vấn đề vệ sinh trong mỗi kỳ kinh nguyệt không đảm bảo, không thay băng vệ sinh thường xuyên, dùng tampon… điều này sẽ tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập sâu vào trong gây viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung.

Phụ nữ quan hệ tình dục bừa bãi, quan hệ tình dục không an toàn, không vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi quan hệ, quan hệ trong kỳ kinh nguyệt, quan hệ trong môi trường kém sạch sẽ… cũng là nguyên nhân gây viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung do vi khuẩn xâm nhập sâu vào bên trong qua đường quan hệ.

Phụ nữ phá thai nhiều lần, phá thai ở những cơ sở y tế kém chất lượng, dụng cụ y tế không đảm bảo, không chăm sóc vùng kín cần thận sau phá thai cũng có thể gây viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung.

Việc sử dụng các dụng cụ phòng tránh thai như: đặt vòng tránh thai… cũng là nguyên nhân của viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung.

Phụ nữ mắc một số bệnh viêm nhiễm phụ khoa như: viêm vùng chậu, viêm ống dẫn trứng, viêm nội mạc tử cung, viêm cổ tử cung… cũng có thể lây lan và gây viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung.

Ngoài ra, còn có rất nhiều nguyên nhân khác khiến phụ nữ có thể dễ dàng bị viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung.

Khi bị viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung, chị em thường có một sô dấu hiệu như sau: Vùng kín tiết nhiều khí hư bất thường, thậm chí có thể bị xuất huyết ở âm đạo thường xuyên. Người bệnh bị đau bụng dưới, trướng bụng, đau vùng xương hông (đau nhiều hơn khi hành kinh). Kinh nguyệt không đều, kinh nguyệt ra nhiều hoặc kinh nguyệt bị vón cục. Cũng có thể bị nóng sốt nhẹ, cơ thể mệt mỏi, hậu môn bị sưng phù nhẹ.

Những biểu hiện trên thường rõ ràng trong giai đoạn viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung cấp tính. Trong giai đoạn mãn tính, viêm buồng trứng thường không có biểu hiện gì rõ rệt, nhưng hậu quả mà viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung gây ra thì cực kì nguy hiểm. Vì ít biểu hiện nên viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung mãn tính thường ít được chị em chú ý, bệnh không được điều trị sớm sẽ gây ra biến chứng hiếm muộn, vô sinh ở phụ nữ.

Khi có bất kỳ dấu hiệu nào của viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung, bạn nên đến ngay các cơ sở y tế để được bác sĩ siêu âm, khám xét nghiệm tìm ra tác nhân gây bệnh, sau đó sẽ có những hướng điều trị phù hợp.

Viêm ứ nước, ứ mủ vòi tử cung thường được bác sĩ điều trị bằng thuốc kháng sinh, hoặc phẫu thuật mở thông tạo hình vòi tử cung, tuy nhiên, trong quá trình điều trị, để đạt hiệu quả tối đa, bạn cần tuân thủ tuyệt đối theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Bệnh u nang buồng trứng

U nang buồng trứng là bệnh thường gặp nhất ở chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Bệnh có nhiều loại, cụ thể như sau:

U nang cơ năng là những nang nhỏ, vỏ mỏng, chứa dịch. U có thể mất đi sau một vài kỳ kinh nguyệt và nó không có tổn thương về giải phẫu. U nang cơ năng sinh ra do rối loạn chức năng bài buồng trứng.

U nang thực thể thường là những u lành tính nhưng hoàn toàn có thể trở thành u ác tính nếu không được chữa trị kịp thời.

U nang nước là loại u nang có vỏ mỏng, chứa dịch, có cuống dài. không dính vào xung quanh.

U nang nhày buồng trứng thường to, có nhiều thuỳ, vỏ nang dày bên trong chứa dịch nhày màu vàng và hay dính vào các tạng xung quanh.

U nang bì buồng trứng chiếm khoảng 25% các khối u buồng trứng. Thường là u ác, tổ chức u rất đặc biệt, vỏ khối u có cấu trúc như da, có lớp sừng, mỡ… bên trong có chứa tóc, răng, bã đậu...

U lạc nội mạc tử cung là sự xuất hiện của nội mạc tử cung ở buồng trứng, thường ở vỏ buồng trứng. Nang lạc nội mạc tử cung có thể phá huỷ tổ chức buồng trứng lành, thường có ở cả hai buồng trứng, trong nang chứa dịch màu nâu sẫm. U thường gây đau, dính vào các tạng xung quanh và gây vô sinh.

Những khối u nang ở buồng trứng phát triển chậm và thường không có triệu chứng, nên khi phát hiện thì chúng đã phát triển khá lớn. Mặc dù đa số các khối u ở buồng trứng là lành tính, chỉ khoảng 5% phát triển thành ung thư, nhưng chúng ảnh hưởng lớn tới khả năng sinh sản của phụ nữ.

Buồng trứng đa nang

Buồng trứng có nhiều nang nhỏ là dấu hiệu của hội chứng đa nang buồng trứng. Bệnh này có nguy cơ rất cao cản trở việc thụ thai và có thể gây ra hiện tượng vô sinh ở nữ. Buồng chứng có nhiều nang nhỏ là do sự thay đổi nội tiết tố trong cơ thể, khiến mức độ hoóc môn sinh dục tăng cao. Cơ thể không có khả năng rụng trứng do sự sản sinh quá mức của hóc-môn sinh dục nam (testoterone) và thiếu hóc môn động dục nữ và sản sinh hoóc môn giới tính duy trì thai của buồng trứng. Do thiếu lượng hóc môn sinh sản, hóc môn sinh dục nam testoterone không thể chuyển hóa thành hoóc môn động dục nữ và nang trứng không thể chín và rụng.

Mặt khác, hoóc môn LH của tuyến yên cao, kích thích buồng trứng sản xuất estrogen và tạo ra những thay đổi mô học. Quá trình phát triển của nang noãn sẽ bị gián đoạn do sự gia tăng bất thường về nồng độ testosronen và LH của tuyến yên. Khi nang noãn không phát triển, đồng nghĩa với việc trứng cũng không thể phát triển và sẽ không có hiện tượng rụng trứng. Điều này khiến các nang noãn bị ức chế và tạo thành các hạt nhỏ ở buồng trứng gây hội chứng đa nang. Đồng thời, khi không phóng noãn nên các hoóc môn progesterone cũng không thể sản xuất được và nồng độ estrogen không thay đổi.

Triệu chứng thường gặp khi bị hội chứng đa nang buồng trứng là: Kinh nguyệt không đều hoặc không có kinh nguyệt; Mọc nhiều mụn trứng cá; Tăng cân nhanh; Rậm lông…

Những chị em phụ nữ mắc bệnh buồng trứng đa nang thường khó thụ thai do chu kỳ rụng trứng không đều đặn. Ngoài ra, chị em phụ nữ còn có nguy cơ mắc một số bệnh như: cao huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, béo phì...

Suy buồng trứng sớm

Suy buồng trứng sớm là hiện tượng chức năng buồng trứng ngừng hoạt động sớm, khi phụ nữ dưới tuổi 40. Nguyên nhân gây bệnh có thể do di truyền, bệnh tự nhiên, do nhiễm khuẩn, do can thiệp của phẫu thuật, sau khi điều trị hóa chất, xạ trị...

Biểu hiện thường gặp khi bị suy buồng trứng sớm là: Rối loạn kinh nguyệt, khó ngủ, giảm ham muốn tình dục, âm đạo khô...

Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là bệnh nguy hiểm ở chị em phụ nữ. Bệnh có nguy cơ gây tử vong cao thứ 3 chỉ sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung.

Mặc dù chưa biết rõ nguyên nhân cụ thể gây bệnh, nhưng những yếu tố thuận lợi là môi trường độc hại, tuổi sau 40, yếu tố hoóc môn, di truyền, nhiễm khuẩn…

Triệu chứng thường gặp: Đau lưng, bụng to nhanh, cảm giác khó chịu vùng bụng dưới, tự sờ thấy khối u ở bụng, bụng có nước.

Trên đây là những bệnh ở buồng trứng thường gặp nhất, không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản mà còn ảnh hưởng tới chất lượng sống của phụ nữ . Để bảo vệ sức khỏe cho bản thân mình chị em nên có những cách phòng bệnh hiệu quả. Chẳng hạn, khi đến tuổi trưởng thành và khi bắt đầu có quan hệ tình dục thì nên đi khám phụ khoa một cách thường xuyên định kì (6 tháng/lần) hoặc khi có dấu hiệu bất thường thì cần đi khám bệnh ngay để phát hiện sớm những bệnh lí của buồng trứng.

BS.Trần Ngọc Cường

Những triệu chứng mãn kinh thường gặp

Có nhiều triệu chứng xảy ra trong giai đoạn tiền mãn kinh và có thể kéo dài vài tháng đến bốn năm trước khi kết thúc. Các triệu chứng mãn kinh khác nhau ở mỗi người. Một số có thể trải qua giai đoạn này mà không có bất cứ triệu chứng hoặc khó khăn nào. Trong khi với một số người có thể là thời kỳ “kinh hoàng” và kéo dài. Dưới đây là một số triệu chứng mãn kinh phụ nữ thường gặp

1. Những thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt

Đây là triệu chứng đầu tiên của mãn kinh. Bạn có thể có kinh nguyệt không đều, ngắn hoặc lâu hơn, hoặc thất thường.

Những triệu chứng mãn kinh thường gặp

2. Khô âm đạo

Sự suy giảm hàm lượng hai loại hormone giới tính nữoestrogen hoặc progesterone gây khô âm đạo. Đây là một trong những triệu chứng hàng đầu của mãn kinh ở phụ nữ.

3. Giảm ham muốn

Một số trong những triệu chứng này bao gồm phản ứng cực khoái chậm, khô âm đạo và phản ứng âm vật muộn.

4. Đau ngực

Những thay đổi hormon có thể gây đau vú, mềm hoặc đau nhức ở một hoặc cả hai vú.

5. Nhức đầu

Nhức đầu xảy ra do nồng độ oerstrogen ở mức thấp trong chu kỳ kinh nguyệt.

6. Cảm giác nóng lưỡi

Mức estrogen thấp trong cơ thể có thể làm hỏng nụ vị giác cũng như làm đau các dây thần kinh xung quanh.

7. Nhịp tim bất thường

Thiếu hụt estrogen có thể gây kích thích hệ thần kinh và hệ tuần hoàn, dẫn đến tim đập nhanh bất thường.

8. Đau khớp

Hormon estrogen giúp ngăn ngừa viêm khớp. Hàm lượng hormon nàygiảm có thể gây viêm và đau khớp. Đây cũng là một trong những dấu hiệu đầu tiên của mãn kinh.

9. Loãng xương

Estrogen liên quan tới quá trình hấp thu canxi vào xương. Khi hormon này giảm, có thể giảm đáng kể mật độ xương, dẫn đến chứng loãng xương.

10. Đi tiểu thường xuyên

Trong thời kỳ mãn kinh, phụ nữ có thể cảm thấy khó kiểm soát bàng quang. Điều này là do các mô trong âm đạo và niệu đạo bị giảm độ đàn hồi và niêm mạc bị mỏng đi trong thời kỳ mãn kinh.

BSThu Vân

(Theo Boldsky)

Bốc hỏa không do mãn kinh, vì sao ?

Do thuốc hoặc thực phẩm gây bốc hỏa

“Bốc hỏa” do nhiều nguyên nhân ngoài mãn kinh: nhiều chị em chưa đến tuổi tiền mãn kinh nhưng vẫn bị những cơn bừng “bốc hỏa” hành hạ. Bạn sẽ bị cơn bốc hỏa khi thân nhiệt tăng cao, đắp chăn quá nóng, uống nước nóng, khi nhiệt độ phòng quá cao…

Cơn bừng bốc hỏa có thể là tác dụng không mong muốn của một số loại thuốc bạn dùng như: Raloxifene (Evista) là loại thuốc được kê cho người bị loãng xương; tamoxifen (Tamoxifen và Nolvadex) là loại thuốc dùng để điều trị ung thư vú; do tác dụng không mong muốn của hóa trị; tramadol, là thuốc giảm đau…Khi uống, các thuốc này có thể làm da bạn nóng bừng như bốc hỏa trong người, tuy các tác dụng này thường hiếm gặp.

Uống rượu gây nóng trong người như một cơn bốc hỏa

Các loại thức ăn cay nóng như: ớt, một vài loại thực phẩm đóng gói sẵn có thể tạo ra một sức nóng rất lớn, có thể làm giãn các mạch máu và kích thích các dây thần kinh. Một số người khi uống rượu, cũng có thể tạo ra cảm giác giống như bốc hỏa.

Ớt và các món ăn cay nóng khác có thể gây ra cơn bốc hỏa

Bốc hỏa do căng thẳng …

Khi bạn bị căng thẳng, lo lắng hoặc buồn rầu, cơ thể bạn sẽ tiết ra các hormone như epinephrine và norepinephrine. Các hormone này làm tăng lưu lượng máu và tạo ra cảm giác nóng khắp người. Trạng thái đỏ mặt, nóng bừng mặt cũng có thể là kết quả của rất nhiều các yếu tố, như căng thẳng, tổn thương tủy sống và chứng đau nửa đầu. Nóng bừng cũng có thể làm cho da chuyển sang màu đỏ và bạn sẽ có cảm giác rất nóng.

Khi bị căng thẳng, cơ thể sẽ tiết ra các hormone như epinephrine và norepinephrine gây ra cơn bốc hỏa

Mặt khác, nóng bừng có thể là phản ứng dị ứng của da với một số loại thực phẩm hoặc các tác nhân của môi trường như nhiệt độ, khói bụi, hóa chất…

Những rối loạn và bệnh lý gây bốc hỏa

Các cơn bừng bốc hỏa còn liên quan đến hormon. Các bác sỹ chuyên khoa cho rằng vùng dưới đồi là nguyên nhân chính của hiện tượng bốc hỏa, nó là một phần của não bộ có chức năng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Sự suy giảm estrogen một cách tự nhiên ở phụ nữ lớn tuổi có thể làm cho vùng dưới đồi hoạt động kém hiệu quả. Rối loạn chức năng vùng dưới đồi có thể được điều trị bằng liệu pháp thay thế hormon.

Một số bệnh lý như: rối loạn tiêu hóa, chấn thương vùng đầu, rối loạn về gen…đều có thể dẫn đến bốc hỏa.

Bốc hỏa còn là triệu chứng của bệnh cường tuyến giáp. Đây là bệnh do tuyến giáp tăng hoạt động, thường xảy ra khi tuyến giáp sản xuất ra quá nhiều hormon thyroid.

Bốc hỏa còn là triệu chứng của bệnh cường tuyến giáp

Bệnh cường giáp thường kèm theo các triệu chứng khác, như sụt cân nhanh, thay đổi về nhu động ruột, rối loạn nhịp tim… Việc điều trị cường giáp thường phải căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh. Thông thường, các loại thuốc chẹn beta hoặc các loại thuốc dùng cho tuyến giáp được sử dụng để làm giảm các triệu chứng. Phẫu thuật có thể sẽ được chỉ định trong những trường hợp bệnh rất nặng, để loại bỏ vùng bị rối loạn hoạt động của tuyến giáp.

Như vậy tình trạng bốc hỏa sẽ xảy ra ở hai trường hợp: một liên quan đến tiền mãn kinh và mãn kinh và hai là các rối lọan bệnh lý không liên quan đến mãn kinh.

Tình trạng tiền mãn kinh và mãn kinh gây ra các cơn bừng bốc hỏa, thường xảy ra khi phụ nữ bước vào tuổi 40 đến 50 trong đó giai đoạn tiền mãn kinh có thể xảy ra trước mãn kinh thực sự 10 năm. Điều này có nghĩa là phụ nữ sẽ phải trải qua cảm giác bốc hỏa rất nhiều năm trước khi chu kỳ kinh nguyệt của họ hoàn toàn chấm dứt. Bác sỹ sẽ cân nhắc dựa vào các triệu chứng, tuổi tác, tiền sử gia đình và thói quen lối sống của bạn, để chẩn đoán và điều trị phù hợp.

Các bệnh lý và rối loạn khác gây ra các cơn bốc hỏa ở mọi độ tuổi của phụ nữ, bao gồm các trường hợp nói trên đây.

Vì vậy chị em phụ nữ cần ghi lại nhật ký bốc hỏa để giúp bác sỹ chẩn đoán đúng bệnh lý gây nên tình chứng bệnh này. Bạn nên ghi lại thật chi tiết mỗi lần bốc hỏa, bao gồm cả những gì bạn đã ăn trước khi bị bốc hỏa. Danh sách triệu chứng dạng như vậy có thể giúp xác định được những thói quen nào bạn nên thay đổi và cũng có thể giúp bạn tránh được các nguyên nhân và giảm các triệu chứng khó chịu.

BS. Ninh Hồng

(Theo Healthline)